Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Thực trạng của nền kinh tế Việt Nam trước xu thế toàn cầu hoá

MỤC LỤC
- PHẦN MỞ ĐẦU
- PHẦN NỘI DUNG
I- Cơ sở lý luận triết học dùng làm tiền đề lý luận cho đề tài.
1. Nguyên tắc phương pháp luận của qui luật lượng- chất.
2. Nguyên tắc phương pháp luận của mối quan hệ nguyên nhân- kết quả.
II- Vận dụng nguyên lý triết học để phân tích, làm rõ thực trạng của nền kinh tế Việt
Nam trước xu thế toàn cầu hoá.
III- Những giải pháp và kiến nghị.
- PHẦN KẾT LUẬN


LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế là ngành không thể thiếu được của mọi quốc gia trên thế giới. Chính vì thế, nó
chiếm một vai trò quan trọng trong hệ thống nhà nước của mỗi quốc gia. Không chỉ có vậy, lĩnh
vực kinh tế còn ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội như: chính trị, văn hoá, môi
trường Do có vai trò quan trọng như vậy nên mỗi một thay đổi dù lớn hay nhỏ của ngành kinh
tế đều ảnh hưởng đến sự phát triển chung của một quốc gia.
Ngày nay, xu thế toàn cầu hoá đang là một đề tài thu hút nhiều sự chú ý và gần đây hiệp định
thương mại Việt - Mỹ đã được thông qua tạo thêm nhiều cơ hội cho sự phát triển kinh tế ở
nước ta nhưng đồng thời đây cũng là một thách thức lớn đối với nền kinh tế còn đang trong giai
đoạn phát triển như nước ta ,vì hiện nay có thể nói công nghệ và kỹ thuật của ta còn đi chậm
hơn so với thế giới và chúng ta buộc phải có những đổi mới trong cung cách sản xuất, quản lý ,
đầu tư đúng hướng
Bài tiểu luận này đã giúp em học hỏi được rất nhiều trong việc rèn luyện cách viết, cách diễn
giải một vấn đề và trau dồi khả năng tư duy. Song do đây là bài tiểu luận đầu tiên cho nên
không thể tránh khỏi những sai sót về nội dung cũng như hình thức. Kính mong các thầy cô
giáo sửa chữa và góp ý để tiểu luận có thể hoàn thiện hơn.


PHẦN NỘI DUNG
I- Cơ sở lý luận triết học dùng làm tiền đề lý luận cho đề tài
1 - Q uy luật lượng- chất
Muốn hiểu thấu đáo qui luật lượng- chất thì trước hết phải tìm hiểu xem thế nào là lượng, thế
nào là chất. Trong giáo trình triết học Mác- Lênin, khái niệm về chất và lượng được dịnh nghiã
như sau:” chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính qui định khách quan vốn có của sự vật
và hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính làm cho nó là nó chứ không phải cái
khác”. Còn”lượng là một phạm trù triết học để chỉ tính qui định vốn có của sự vật biểu thị số
lượng, qui mô,trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật cũng như của các
thuộc tính của nó”.
Bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng có chất và lượng. Trong quá trình vận động và phát triển,
chất và lượng của sự vật cũng biến đổi. Sự thay đổi của lượng và của chất không diễn ra độc
lập với nhau. Trái lại, chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhưng không phải bất kì sự thay đổi
nào của lượng cũng ngay lập tức làm thay đổi căn bản chất của sự vật. Lượng của sự vật có thể
thay đổi trong một giới hạn nhất định mà không làm thay đổi căn bản chất của sự vật đó. Vượt
qua giới hạn đó sẽ làm cho vật không còn là nó, chất cũ mất đi, chất mới ra đời.
Khuôn khổ mà trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi về chất của sự vật được gọi
là độ. “Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, nó là khoảng
giới hạn, mà trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật .”
Những điểm giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng sẽ làm thay đổi chất của sự vật được
gọi là điểm nút.
Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút sẽ dẫn đến sự ra đời chất mới. Sự thống nhất giữa
lượng và chất mới tạo thành một độ mới với điểm nút mới. Vì vậy, có thể hình dung sự phát
triển dưới dạng một đường nút của những quan hệ về độ.
Sự thay đổi về chất do những thay đổi về lượng trước đó gây ra gọi là bước nhảy. Nói cách
khác, bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ giai đoạn chuyển hoá về chất của sự vật
do những thay đổi về chất trước đó gây ra.
Sự thay đổi về chất là kết quả của sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút. Sau khi ra đời,
chất mới có thể tác động trở lại sự thay đổi của lượng. Chất mới có thể làm thay đổi quy mô tồn
tại của sự vật, làm thay đổi nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật đó.
Bởi vì chất và lượng là hai mạt đối lập vốn có trong lòng sự vật hiện tượng. Chất thì tương
đối ổn định còn lượng thì thường xuyên biến đổi. Sự thay đổi của lượng đến một lúc nào đó thì
đối lập với chất cũ, bị chất cũ kìm hãm, nó đòi hỏi phải phá bỏ độ cũ mở ra một độ mới để mở
đường cho lượng thay đổi. Khi chất cũ bị phá bỏ, chất mới được thiết lập lại tạo ra sự thống
nhất giữa chất và lượng.
Quy luật lượng chất được phát biểu như sau: “Bất kì sự vật nào cũng là sự thống nhất giữa
chất và lượng, sự thay đổi dần dần về lượng vượt quá giới hạn của độ sẽ dẫn tới thay đổi căn
bản về chất của sự vật thông qua bước nhảy; chất mới ra đời sẽ tác động trở lại sự thay đổi của
lượng.
Xuất phát từ những điều trên, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn đòi hỏi phải
quan tâm đến quá trình tích luỹ về lượng bởi vì không có quá trình này thì không có sự thay đổi
căn bản về chất. Sự vật cũng không thể mất đi, cái mới tiến bộ hơn không thể ra đời thay thế.
Khi chất mới ra đời thì phải biết xác định quy mô tốc độ phát triển mới về lượng cho phù
hợp, không được thoả mãn dừng lại.
Phải chống lại quan điểm tả khuynh và hữu khuynh. Tả khuynh là quan điểm coi thường tích
luỹ về lượng. Còn hữu khuynh là khi lượng thay đổi đã chín muồi cần phải có sự thay đổi về
chất lại không dám thực hiện bước thay đôỉ về chất. Cả hai quan điểm đó đều là quan điểm sai
lầm.
2. Nguyên tắc phương pháp luận của mối quan hệ nguyên nhân- Kết quả.
Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả. Do đó, nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả. Còn
kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau khi nguyên nhân đã xuất hiện Song không phải mọi sự việc
nối tiếp trong thời gian của các hiện tượng đều là biều hiện của mối quan hệ nhân quả.
Trong hiện thực mối liên hệ nhân- quả biểu hiện rất phức tạp. Một kết quả thông thường
không phải do một nguyên nhân và một nguyên nhân có thể sản sinh ra nhiều kết quả. Khi các
nguyên nhân tác động cùng chiều, cùng hướng, cùng một lúc lên sự vật thì chúng sẽ gây lên ảnh
hưởng cùng chiều tới sự hình thành kết quả và ngược lại.
Trong sợi dây chuyền vô tận của sự vận động vật chất, không có hiện tượng nào được coi là
nguyên nhân đầu tiên và cũng không có kết quả nào được xem là kết quả cuối cùng. Trong mối
quan hệ này, sự vật nào đó được coi là nguyên nhân thì trong sự việc khác, nó lại được coi là
kết quả và ngược lại.
Nguyên nhân sản sinh ra kết quả. Nhưng sau khi xuất hiện, kết quả không giữ vai trò thụ
động đối với nguyên nhân. Trái lại, nó tác động lại nguyên nhân theo hai chiều hướng hoặc tích
cực hoặc tiêu cực.
Mối liên hệ nhân – quả có tính khách quan. Không có sự vật hiện tượng nào tồn tại mà không
có nguyên nhân. Do đó, nhiệm vụ của nhận thức khoa học là phải khám phá ra nguyên nhân.
Bởi vì có biết nguyên nhân, chúng ta mới có thể định hướng cho sự phát triển tiếp sau.
Một sự vật hiện tượng có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra. Mỗi nguyên nhân có vị trí khác
nhau trong việc hình thành kết quả. Vì vậy, ta cần phải phân loại các nguyên nhân đồng thời
phải nắm được những nguyên nhân phát triển cùng chiều để tạo ra sức mạnh tổng hợp và hạn
chế những nguyên nhân ngược chiều.
Nguyên nhân sinh ra kết quả nhưng sau khi kết quả xuất hiện thì nó lại tác động trở lại
nguyên nhân sinh ra nó. Vì vậy, phải biết khai thác tận dụng các kết quả đã đạt được để nâng
cao nhận thức để thúc đẩy sự vật phát triển.
II- Vận dụng nguyên lý triết học để phân tích, làm rõ thực trạng của nền kinh tế Việt
Nam trước xu thế toàn cầu hoá.
Trên thế giới có rất nhiều tài liệu viết về khái niệm hội nhập kinh tế Quốc tế. Giáo sư về kinh
tế học quốc tế thuộc đại học Tổng hợp Giôn Hốp- kin, Oa- sinh- tơn D.C, Giêm Ri- đen đã định
nghĩa: “Hội nhập là tự do thương mại, không phải chỉ đơn giản là bản thân thương mại”. Về
mặt lý luận, các vấn đề kinh tế không chỉ mang các đặc trưng của kinh tế đơn thuần, mà luôn
gắn với một hệ thống của chính trị là nền tảng của tư tưởng của nó. Về mặt thực tiễn, rõ ràng ở
quốc gia nào cũng vậy , người ta chỉ chấp nhận hội nhập kinh tế quốc tế một khi lợi ích của
quốc gia đó được bảo đảm- Các lợi ích này không chỉ đơn thuần là lợi ích kinh tế. Nó luôn
được xác định gồm cả lợi ích chính trị của mỗi quốc gia. Cho nên, bất cứ hiệp định song
phương giữa hai quốc gia nào cũng luôn có điều khoản loại trừ các yếu tố gây hại đến an ninh
quốc gia mỗi nước. Với cách tiếp cận trên, có thể hiểu hội nhập kinh tế quốc tế, của nước ta
hiện nay không chỉ là quá trình gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế mà còn được thể hiện trong
bản thân hệ thống chính các thương mại, chính sách phát triển kinh tế đã và đang được Đảng,
Nhà nước định hướng.
Những phát kiến về địa lý, những cuộc chiến tranh xâm chiếm thuộc địa, sự phát triển đại
công nghiệp, sự phát triển sản xuất nhờ áp dụng các thành tựu khoa học và công nghệ, sự mở
rộng thị trường quốc tế, mở rộng giao lưu quốc tế đã phá vỡ tính biệt lập, khép kín trong phạm
vi quốc gia, mở rộng không gian hoạt động của các quốc gia. Đây chính là tiền đề cho quá trình
tích luỹ về lượng để chuẩn bị cho sự thay đổi về chất tới một giới hạn nào đó(độ) thì dẫn đến
một bước nhảy về kinh tế là xu thế toàn cầu hoá ra đời.
Có nhiều nguyên nhân tác động dẫn tới sự hình thành và phát triển xu thế toàn cầu hoá kinh
tế, trong đó có một số nguyên nhân chủ yếu là:
-Xu thế toàn cầu hoá kinh tế trước hết bắt nguồn từ sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản
xuất, từ tính chất xã hội hoá của lực lượng sản xuất trên phạm vi quốc gia và quốc tế.
-Xu thế toàn cầu hoá kinh tế chịu sự tác động trực tiếp rất mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa
học và công nghệ hiện đại. Sự phát triển của các công nghệ cao( công nghệ sinh học, công nghệ
viễn thông ) đã làm thay đổi về chất lực lượng sản xuất của loài người, đã đưa loài người từ
văn minh công nghiệp lên văn minh tin học, đã tạo thành kinh tế tri thức, kĩ thuật số, hình thành
mạng máy tính toàn cầu( Internet), phá vỡ hàng rào ngăn cách về không gian và thời gian giữa
các quốc gia trên thế giới và thúc đẩy các nước quan hệ, hợp tác với nhau.
- Sự phát triển và bành trướng của các công ty tư bản độc quyền xuyên quốc gia,lực lượng chi
phối toàn cầu hoá.
Chính những nguyên nhân trên đã đặt các quốc gia, phát triển cũng như đang phát triển, đứng
trước thách thức về tụt hậu. Do đó các quốc gia đều đặt ưu tiên cho phát triển kinh tế. Trong đó,
yêu cầu về mở rộng thị trường, tìm kiếm đối tác ngày nay đã trở thành một nhiệm vụ chủ yếu.
Quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam được bắt đầu từ cuối những năm 80 khi Đảng và
Nhà nước thực hiện chính sách mở cửa và đổi mới nền kinh tế. Đại Hội VII của Đảng (1991)
đã thông qua định hướng nền kinh tế đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế “Nghị quyết
đại hội VIII của Đảng (1996) đã quyết định : “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và
thế giới” Nghị quyết hội nghị Trung Ương lần thứ 4 khoá VIII (12-1997) chỉ rõ nguyên tắc hội
nhập là : “ trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách thu hút các
nguồn lực từ bên ngoài”, “tiến hành khẩn trương, vững chắc việc đàm phán hiệp định Thương
mại với Mỹ, gia nhập APEC và WTO”, có “ kế hoạch cụ thể để chủ động thực hiện các cam kết
trong khuôn khổ AFTA”.
Để thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế các quy định đối với mỗi quốc gia, là tự do hoá
thương mại và đầu tư một cách công khai, rõ ràng theo 4 nguyên tắc cơ bản sau:
- Công bằng
- Tự do hoá thương mại
- Làm ăn hay thương lượng với nhau phải trên có sở có đi có lại.
- Công khai mọi chính sách Thương Mại và đầu tư.
Với các nguyên tắc trên, nước “đi sau” như nước ta sẽ có nhiều thuận lợi, nhất là trong việc
học hỏi các kinh ngiệm của các nước “đi trước”, nhưng cũng sẽ phải chịu rất nhiều khó khăn
thách thức mà quan trọng hàng đầu là việc bảo hộ nền sản xuất trong nước và các doanh
nghiệp Việt Nam nhất là các doanh nghiệp quốc doanh mới “chân ướt, chân ráo” bước vào
nền kinh tế thị trường.
Với tầm nhìn chiến lược xác định rõ tình hình và xu thế phát triển của thế giới, trên cơ sở
yêu cấu bức xúc của phát triển kinh tế đất nước, Đại hội đã khẳng định “Xây dựng một nền
kinh tế mở”, “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế và Thế giới”, nghị quyết 4 của Ban chấp
hành TW khoá III cũng đã nêu rõ:”tích cực, chủ động thâm nhập và mở rộng thị trường
quốc tế”, “gia nhập APEC và WTO, có kế hoạch cụ thể để chủ động thực hiện các cam kết
trong khuôn khổ AFTA”. Rõ ràng, hội nhập kinh tế quốc tế là quan điểm, là định hướng
phải được nhất quán tuân thủ.
Qua nghiên cứu thực tiễn các hoạt động hội nhập kinh tế của các nước, nhất là các nước
đang phát triển, có thể thấy rằng hội nhập kinh tế quốc tế luôn không phải chỉ toàn được mà
không có thua thiệt. Vấn đề toàn cầu hoá như một:”con dao hai lưỡi”. Một mặt nó tạo cơ hội
phát triển kinh tế- kĩ thuật, tạo khả năng giao lưu văn hoá, trí tuệ, chuyển giao công nghệ
hiện đại, phát triển văn minh vật chất. Mặt khác, nó làm trầm trọng thêm bất công xã hội,
đào sâu hố ngăn cách giàu nghèo, làm xói mòn bản sắc văn hoá dân tộc, tấn công vào chủ
quyền quốc gia. Về phương diện nguyên tắc, phải xác định một chiến lược hợp lý, sao cho
có thể kiếm được lợi một cách tối đa và hạn chế đến mức thấp nhất có thể được những thua
thiệt. Và điều quan trọng là cái được phải nhiều hơn cái mất.
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa tranh thủ vừa cạnh
tranh, vừa tận dụng mọi cơ hội vừa phải đối phó với những thách thức to lớn. Đối với nước ta
hiện nay, thách thức lớn nhất là năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, nhất là
các doanh nghiệp quốc doanh còn yếu, rất dễ bị thua thiệt trên thương trường; là sự thiếu hụt
năng lực thu thập và phân tích thông tin để dự báo chiều hướng phát triển của nền kinh tế thế
giới và các đối tác cạnh tranh, từ đó kém khả năng mở rộng và phát triển thị trường của mình.
Ngay cả đội ngũ cán bộ làm công tác hội nhập kinh tế quốc tế của ta hiện nay cũng vừa học,
vừa làm.
Chúng ta tham gia cuộc đua tranh kinh tế khi trình độ kinh tế và công nghệ của ta còn thấp.
Bảo vệ nền kinh tế cũng như bảo vệ các doanh nghiệp của ta, nhất là các doanh nghiệp quốc
doanh là vấn đề phải được đặt lên hàng đầu. Một lộ trình hội nhập nhanh quá khả năng chịu
đựng của nền kinh tế với mức độ cao quá khả năng của các doanh nghiệp sẽ dẫn đến những
hậu quả khó lường đối với nền kinh tế, đôi khi cả chính trị của đất nước. Song điều đó cũng
không có nghĩa là càng kéo dài lộ trình hội nhập kinh tế với mức độ càng thấp càng tốt. Bởi vì
kéo dài lộ trình sẽ làm cho sức ì càng nặng, kém đầu tư cải tiến quản lý công nghệ, dẫn tới tình
trạng kém hiệu quả, yếu sức cạnh tranh và nền kinh tế ngày càng tụt hậu so với nền kinh tế thế
giới.
Toàn cầu hoá kinh tế có tác dụng trực tiếp đến chính trị, có những hệ quả về mặt chính trị.
Song ở đây không nên hiểu luận điểm kinh tế quyết định chính trị một cách đơn giản và máy
móc. Thông qua con đường hợp tác, đầu tư, tự do hoá thương mại, viện trợ, cho vay theo hướng
khuyến khích tư nhân hoá, tự do hoá tư sản. Các thế lực tư bản chủ nghĩa đứng đầu là Mĩ muốn
tạo ra những cơ sở kinh tế tư bản chủ nghĩa. Từ đó dẫn đến hình thành những lực lượng chính
trị đối lập ngay trong lòng xã hội để thực hiện tự diễn biến hòng thay đổi chế độ xã hội chủ
nghĩa( đối với các nước xã hội chủ nghĩa) hoặc thay đổi chính phủ theo hướng thân phương
Tây( đối với các nước đang phát triển) gây sức ép về kinh tế và chính trị đối với các nước. Tuy
vậy, chủ nghĩa đế quốc vấp phải sự phản kháng mạnh mẽ của các nước đang phát triển, các
nước xã hội chủ nghĩa nhằm chống lại âm mưu áp đặt về chính trị. Vừa qua, Hiệp định thương
mại Việt- Mĩ đã được kí kết, một hiệp định rất có lợi đối với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam,
nhưng trước đó Mĩ định dùng áp lực này nhằm thông qua “đạo luật nhân quyền”, một sự can
thiệp thô bạo vào nền chính trị của nước ta.
Cũng như lĩnh vực chính trị, lĩnh vực văn hoá cũng chịu tác động bởi quá trình toàn cầu hoá
kinh tế. Toàn cầu hoá tạo điều kiện cho việc mở rộng giao lưu quốc tế, tăng thêm mối liên hệ
và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, sự xích lại gần nhau giữa các quốc gia. Do đó, nó
cũng tạo điều kiện cho việc mở rộng giao lưu về văn hoá, khoa học giữa các quốc gia, dân tộc
tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của văn hoá nhân loại, bổ sung cho nhau tạo điều kiện
hiện đại hoá văn hoá. Tuy nhiên, mặt khác, toàn cầu hoá kinh tế trong điều kiện do thế lực tư
bản chi phối lại tạo nguy cơ làm sói mòn bản sắc dân tộc, mâu thuẫn với việc giữ gìn bản sắc
văn hoá dân tộc. Trên thế giới, chủ nghiã đế quốc nhất là đế quốc Mỹ dựa trên sức mạnh kinh
tế của mình đang muốn toàn cầu hoá văn hoá, thậm chí là Mỹ hoá. Người ta tuyên truyền về lối
sống Mỹ, văn hoá Mỹ, còn các kênh truyền thông Mỹ thì phủ khắp hành tinh, phim ảnh Hô-li-út
của Mỹ được chiếu khắp các nước, thậm chí đồ ăn thức uống Mỹ( Mac Donald, Coca Cola )
lan tràn khắp nơi. Đến nỗi Pháp cũng lo bị Mỹ hoá. Mỹ muốn áp đặt giá trị, lợi ích văn hoá, lối
sống của mình cho toàn cầu. Chính vì thế, nước ta phải hết sức chú trọng đến vấn đề bảo tồn
văn hoá trong xu thế toàn cầu hoá, tránh bị “hoà tan” trong khi “hoà nhập”.
Không chỉ có vậy, toàn cầu hoá còn ảnh hưởng đến vấn đề môi trường. Từ năm 1973 đến
nay, tuy số liệu điều tra chưa đầy đủ nhưng chắc chắn diện tích rừng bị giảm không phải là con
số ít. Chẳng hạn như ở Lâm Đồng, mỗi măn tính trung bình có 10.000 ha rừng bị tàn phá.
Trong vòng 20 năm trở lại đây có 25% diện tích rừng bị biến mất. Từ năm 1990 đến 1995, toàn
cuốc có 5 triệu ha rừng bị huỷ diệt (bình quân mỗi năm mất 1 triệu ha rừng) . Vấn đề ô nhiễm
môi trưòng , khói bụi và rác thải
Tuy còn nhiều khó khăn và tồn tại nhưng sau hơn 2 thập niên tham gia vào quá trình toàn cầu
hoá nền kinh tế nước ta đã thu được những thành tựu đáng kể. Hàng năm nền kinh tế đều có
tăng trưởng: tổng sản phẩm xã hội (GDP) tăng bình quân hàng năm là 8,2% , giảm tỉ lệ lạm
phát từ 14,7% năm 1986 xuống 12,7% năm 1995 và khoảng 5% năm 1996. Kim ngạch xuất
khẩu trong 5 năm (1991-1995) đạt 17 tỷ đô la và 1996 đạt trên 7 tỷ đô la. Mở rộng được quan
hệ hợp tác với nước ngoài, thu hút vốn đầu tư và kĩ thuật của nhiều nước để phát triển kinh tế
trong nước đến cuối năm 1996 có trên 700 công ty lớn, nhỏ đầu tư vào nước ta với 22 tỷ đô la
nằm trong 1800 dự án phát triển kinh tế thuộc nhiều thành phần khác nhau như: công nghiệp,
nông nghiệp, dịch vụ, ngân hàng tài chính. Chúng ta đã thiết lập quan hệ buôn ngoại thương với
120 nước trên thế giới, xoá bỏ thế bị bao vây, cô lập về kinh tế tạo ra thế và lực mới để cạnh
tranh trên thị trường thế giới. Môi trường kinh tế vĩ mô ngày càng ổn định và cán cân thương
mại ngày càng được cải thiện rõ rệt làm cho nền kinh tế phát triển và năng động hơn.
III-Những kiến nghị và giải pháp.
Để khắc phục những tồn tại của kinh tế Việt Nam nhằm mục tiêu đưa nền kinh tế phát triển và
bền vững trước xu thế toàn cầu hoá em có những kiến nghị sau:
- Xây dựng thể chế pháp lí cho quan hệ giữa nước ta và các nước hình thành một hệ thống
đồng bộ các thoả thuận, cũng như các hiệp định làm nền tảng cho quan hệ hợp tác quốc
tế. Cụ thể là: tham gia và hỗ trợ việc chuẩn bị, đàm phán kí kết các hiệp định, thoả thuận
cấp chính phủ giữa nước ta với các nước, cũng như thực hiện tốt việc theo dõi, đôn đốc
thực hiện các thoả thuận, hiệp định đã được kí kết, cả phía ta và phía bạn. Góp phần xây
dựng hệ thống pháp luật kinh tế của ta cho phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế,
trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành và phát triển các luật lệ, quy định quốc tế,
nhằm bảo vệ tốt nhất lợi ích của đất nước và công dân ta trong quan hệ quốc tê. Pháp
huy vai trò tích cực trong các uỷ ban hỗn hợp và các quy chế song phương về hợp tác
kinh tế giữa Việt Nam và các nước; kịp thời phát hiện, kiến nghị và phối hợp giải quyết
các vấn đề nảy sinh trong quan hệ kinh tế giữa nước ta với các nước và các tổ chức quốc
tế; bảo vệ chủ quyền kinh tế và lợi ích kinh tế của Việt Nam trên trường quốc tế.
- Triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách kinh tế, đặc biệt là về kinh tế đối ngoại.
Nhiệm vụ này là của ngành ngoại giao. Cụ thể là làm thật tốt công tác tiếp thị, tìm kiếm
các nguồn vốn đầu tư, mở rộng thị trường, tìm kiếm đối tác. Với lợi thế, đặc điểm của
ngành cần nắm vững chính sách, luật lệ của các nước sở tại, cung cấp nhanh và chính
xác những thông tin quan trọng về thị trường, đối tác; nắm bắt kịp thời những nhân tố
thuận lợi hoặc không thuận lợi; tăng cường giới thiệu về tiềm năng kinh tế, chính sách,
luật lệ và nhu cầu của ta cho các đối tác nước ngoài. Ngành ngoại giao thực hiện công
việc này trong sự hợp tác và phối phợp chặt chẽ với các bộ, ngành, các địa phương, cũng
như các doanh nghiệp.
- Nghiên cứu kinh tế các nước, kinh tế thế giới, khu vực, các tổ chức kinh tế quốc tế và
quan hệ kinh tế quốc tế; nghiên cứu kinh tế Việt Nam để góp phần hoạch định các chủ
trương, chính sách kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh
tế thế giới và khu vực. Trong bối cảnh hiện nay, công tác này cần được tăng cường với
chất lượng cao hơn để có những đề xuất tham mưu có gia trị cao với đảng và chính phủ.
- Tìm hiểu nhu cầu, khả năng về các mặt của các đối tượng, các nước và các tổ chức quốc
tế , khả năng và nhu cầu của các bộ ngành trong nước để đề xuất kiến nghị với chính
phủ có chủ trương, chính sách làm ăn với từng nước. Hiện nay và trong thời gian tới cần
tập trung vào các lĩnh vực như: xúc tiến thương mại đặc biệt là tìm kiếm thị trường mới,
mở rộng thị trường để tăng cường xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ và xuất khẩu lao động
của Việt Nam; thu hút FDI và các hình thức đầu tư quốc tế khác; vận động ODA, các
hình thức viện trợ khác và hỗ trợ kĩ thuật của cộng đồng quốc tế, và xử lý nợ nước
ngoài; thúc đẩy du lịch và chuyển giao công nghệ ; tranh thủ sự đóng góp của cộng
đồng người Việt Nam ở nước ngoài cho sự nghiệp phát triển đất nước, quảng bá văn hóa
mang bản sắc dân tộc Việt Nam trên thế giới.
- Trực tiếp chuẩn bị và đàm phán hoặc tham gia đàm phán kí kết các loại hiệp định, thoả
thuận chính phủ (song phương, đa phương) giữa ta với các nước làm nền tảng pháp lý
cho quan hệ hợp tác quốc tế phát triển; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các hiệp định,
thoả thuận đã kí kết. Hiện nay và tới đây, cần quan tâm nghiên cứu đóng góp vào khả
năng kí kết các hiệp định song phương và đa phương nhằm hình thành một hệ thống
đồng bộ các thoả thuận và hiệp định về tất cả các mặt biên giới lãnh thổ, lãnh sự, hỗ trợ
tư pháp, hợp tác kinh tế- thương mại và khoa học- công nghệ.
- Hỗ trợ các bộ, ngành, địa phương và các doanh nghiệp trong việc móc nối, thẩm tra các
đối tác, tìm kiếm và mở rộng thị trường; giúp đỡ các doanh nghiệp làm ăn ở nước ngoài.
Trong thời gian tới cần: tích cực tìm kiếm và mở rộng thị trường quốc tế cho xuất khẩu
hàng hoá, dịch vụ, người lao động và đầu tư của Việt Nam.
- Tham gia xây dựng khung pháp lý, các văn bản pháp quy về kinh tế vĩ mô nói chung và
văn bản chuyên ngành, đặc biệt là việc thông tin về kinh nghiệm của các nước.
- Công tác thông tin, tuyên truyền kinh tế nhằm cung cấp những thông tin cần thiết, chính
xác cho những hoạt động kinh tế cụ thể của các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp.
- Tham gia quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại.


PHẦN KẾT LUẬN
Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy cao độ các nguồn nội lực, đồng
thời thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài; kết hợp nội lực với ngoại lực
thành sức mạnh tổng hợp là nội dung quan trọng của đường lối kinh tế do Đại hội IX của
Đảng đề ra. Chủ động hội nhập kinh tế là để tạo ra điều kiện xây dựng thành công nền kinh
tế độc lập, tự chủ. Mặt khác, có độc tự chủ về kinh tế mới có thể chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế có hiệu quả, đảm bảo giữ vững chủ quyền quốc gia và lợi ích dân tộc. Tất cả vì một
nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi
lên CNXH
Việc Việt Nam tham gia toàn cầu hoá kinh tế đã khơi dậy tiềm năng của sản xuất, khơi
dậy năng lực sáng tạo, chủ động của các chủ thể lao động trong sản xuất kinh doanh thúc
đẩy sản xuất phát triển. Do đó nền kinh tế nước ta thực sự được đổi mới, bước đầu đạt được
những thành tựu to lớn: từ một nước đói kém, cơ sở vật chất nghèo nàn, kỹ thuật lạc hậu
đến nay trở thành một nước không chỉ đủ ăn mà còn dư thừa, xuất khẩu ra nước ngoài( đặc
biệt là lúa, gạo). Tuy nhiên, ta không được tự bằng lòng với những gì đã đạt được bởi vì đạt
được đã khó, giữ được còn khó hơn. Vì thế đòi hỏi ta phải cố gắng nỗ lực không ngừng để
củng cố những thành quả và tạo cho mình một chỗ đứng chắc chắn trên trường quốc tế.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Giáo trình triết học Mác-Lênin
- Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Tác giả PTS . Nguyễn Cúc - NXB Thống kê- Hà Nội- 1995
- ASEAN- Những vấn đề và xu hướng
Bài ASEAN- Một số vấn đề môi trường và phát triển
Tác giả PTS . Trần Quốc Trị – Viện nghiên cứu Đông Nam Á

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét