Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Vấn đề đổi mới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

của con người. Đối tượng lao động chính là yếu tố vật chất của sản phẩm tương lai.
Đối tượng lao động gồm các loại:
+ Loại có sẵn trong tự nhiên. Loại này thường là đối tượng của các ngành
công nghiệp khai thác.
+ Loại đã qua chế biến, nghĩa là đã có sự tác động của lao động gọi là
nguyên liệu. Loại này thường là đói tượng của các ngành công nghiệp chế biến.
Với sự phát triển của Cách mạng khoa học- kỹ thuật hiện đại, vai trò của
nhiều đối tượng lao động dần dần thay đổi, đồng thời loại đối tượng lao động có
chất lượng mới được tạo ra. Nhưng cơ sở của mọi đối tượng lao động vẫn là đất đai,
tự nhiên: “ lao động là cha, còn đất là mẹ của mọi của cải vật chất”( 3).
Tư liệu lao động: là một vật hay hệ thống những vật làm nhiệm vụ truyền
dẫn sự tác động của con người lên đối tượng lao động, nhằm biến đổi đối tượng lao
động theo mục đích của mình.
Tư liệu lao động bao gồm công cụ lao động, hệ thống các yếu tố vật chất
phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình sản xuất( nhà xưởng, kho tàng, bến bãi,
ống dẫn, băng chuyền, đường sá, các phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên
lạc ).
Trong các yếu tố hợp thành tư liệu lao động thì công cụ lao động có ý nghĩa
quyết định nhất, là một thành tố cơ bản của lực lượng sản xuất. Công cụ lao động,
theo Ph. Ăngghen là “ khí quan của bộ óc con người”, là “ sức mạnh của tri thức đã
được vật thể hóa” có tác dụng “ nối dài bàn tay” và nhân lên sức mạnh trí tuệ của
con người. Còn Mác gọi là hệ thống xương cốt và cơ bắp của nền sản xuất Công cụ
lao động là vật thể hay phức hợp vật thể mà con người đặt giữa mình với đối tượng
lao động. Trong quá trình sản xuất, công cụ lao động luôn luôn được cải tiến, tinh
xảo hơn để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao hơn. Nó là yếu tố động nhất
và cách mạng nhất trong lực lượng sản xuất. Cùng với sự biến đổi vá phát triển của
công cụ lao động thì kinh nghiệm sản xuất, kỹ năng sản xuất, kiến thức khoa học
của con người cũng tiến bộ, phong phú thêm, những ngành sản xuất mới xuất hiện,
sự phân công lao động phát triển. Chính sự chuyển đổi, cải tiến và hoàn thiện không
ngừng của nó đã gây ra những biến đổi sâu sắc trong toàn bộ tư liệu sản xuất. Xét
cho cùng chính đó là nguyên nhân sâu xa xa của mọi biến cải xã hội. Trình độ phát
Trang 5
triển của công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người,
là cơ sở xác định trình dộ phát triển của sản xuất, là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác
nhau giữa các thời đại kinh tế. Đối với mỗi thế hệ mới, những tư liệu lao động do
thế hệ trước để lại trở thành điểm xuất phát của sự phát triển tương lai. Vì vậy
những tư liệu đó là cơ sở kế tục của lịch sử.
Tư liệu lao động chỉ trở thành lực lượng tích cực cải biến đối tượng lao động,
khi chúng kết hợp với lao động sống. Chính con người với trí tuệ và kinh nghiệm
của mình đã chế tạo ra tư liệu lao động. Tư liệu lao động dù có ý nghĩa đến đâu,
nhưng nếu tách khỏi người lao động thì cũng không thể phát huy được tác dụng,
không thể trở thành lực lượng sản xuất của xã hội.
Trong tác phẩm Sự khốn cùng của triết học, C. Mác đã nêu một tư tưởng
quan trọng về vai trò của lực lượng sản xuất đối với việc thay đổi các quan hệ xã
hội. C. Mác viết: “ Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực
lượng sản xuất. Do có được những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi
phương thức sản xuất của mình, và do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm
sống của mình, loài người thay đổi tất cả quan hệ xã hội của mình. Cái cối xay quay
bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội
nhà tư bản công nghiệp”( 4).
3- Quan hệ sản xuất
Trong hệ thống các khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, khái niệm lực
lượng sản xuất biểu thị mặt thứ nhất của mối “ quan hệ song trùng” của bản thân sự
sản xuất xã hội- quan hệ của con người với tự nhiên; còn khía niệm quan hệ sản
xuất biểu thị mặt thứ hai của quan hệ đó- quan hệ của con người với con người
trong sản xuất. Sở dĩ qúa trình sản xuất xã hội có thể diễn ra bình thường, chính là vì
trong sự sản xuất đó, mối quan hệ giữa con người với con người tồn tại thống nhất
với mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên. Trong sản xuất, mối quan hệ giữa
con người với tự nhiên thể hiện thành những trình độ khác nhau của lực lượng sản
xuất. Tuy nhiên, mối quan hệ đó được xây dựng trong và thông qua những quan hệ
khác nhau giữa người với người, tức là những quan hệ sản xuất. Trong tác phẩm
Lao động làm thuê và tư bản, C. Mác viết: “ Trong sản xuất, người ta không chỉ
quan hệ với giới tự nhiên. Người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với
Trang 6
nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau.
Muốn sản xuất được người ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với
nhau; và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất”( 5).
Như vậy, trong sự sản xuất ra đời sống xã hội của mình, con người ta, dù
muốn hay không cũng buộc phải duy trì và thực hiện những quan hệ nhất định với
nhau. những quan hệ này mang tính tất yếu và không phụ thuộc vào ý muốn của ai
cả. Đó chính là những quan hệ sản xuất( 6). Cố nhiên, quan hệ sản xuất là do con
người tạo ra, song nó tuân theo những quy luật tất yếu, khách quan sự vận động của
đời sống xã hội.
Quan hệ sản xuất bao gồm những mặt cơ bản sau đây:
+ Quan hệ giữa người với người đối với việc sở hữu về tư liệu sản xuất.
+ Quan hệ giữa người và người đối với việc tổ chức quản lý.
+ Quan hệ giữa người và người đối với việc phân phối sản phẩm lao động.
Với tính cách là những quan hệ kinh tế khách quan, không phụ thuộc vào ý
muốn của con người, quan hệ sản xuất là những quan hệ mang tính vật chất thuộc
đời sống xã hội. Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực lượng sản xuất và là
cơ sở sâu xa của đời sống tinh thần xã hội. Ba mặt quan hệ đó trong quá trình sản
xuất xã hội luôn gắn bó với nhau, tạo thành một hệ thống mang tính ổn định tương
đối so với sự vận động không ngừng của lực lượng sản xuất. Các quan hệ sản xuất
của một phương thức sản xuất là một hệ thống bao gồm nhiều mối quan hệ phong
phú và đa dạng biểu hiện dưới nhiều hình thức. Mỗi mặt quan hệ của hệ thống quan
hệ sản xuất có vai trò và ý nghĩa riêng biệt, xác định, khi nó tác động tới nền sản
xuất xã hội nói riêng và tới toàn bộ tiến trình lịch sử nói chung.
Tính chất của quan hệ sản xuất trước hết được quy định bởi quan hệ sở hữu
đối với tư liệu sản xuất- biểu hiện thành chế độ sở hữu- là đặc trưng cơ bản của
phương thức sản xuất. Trong hệ thống các quan hệ sản xuất của mỗi nền kinh tế- xã
hội xác định, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất luôn luôn có vai trò quyết định đối
với tất cả các quan hệ xã hội khác . Quan hệ sở hữu là quan hệ xuất phát, quan hệ cơ
bản, quan hệ trung tâm của các quan hệ sản xuất. Chính quan hệ sở hữu- quan hệ
giữa các tập đoàn người trong việc chiếm hữu các tư liệu sản xuất đã quy định địa vị
của từng tập đoàn trong hệ thống sản xuất xã hội. Đến lượt mình, địa vị của từng tập
Trang 7
đoàn người trong hệ thống sản xuất lại quy định cách thức mà các tập đoàn trao đổi
hoạt động cho nhau, quy định cách thức mà các tập đoàn tổ chức quản lý quá trình
sản xuất. Cuối cùng, chính quan hệ sở hữu là cái quyết định phương thức phân phối
sản phẩm cho các tập đoàn người theo địa vị của họ đối với hệ thống sản xuất xã
hội. “ Định nghĩa quyền sở hữu tư sản không phải là gì khác mà là trình bày tất cả
những quan hệ xã hội của sản xuất tư sản”.( 7).
Trong các hình thái kinh tế- xã hội mà loài người đã từng trải qua, lịch sử đã
chứng kiến sự tồn tại của hai loại hình thức sở hữu cơ bản đối với tư liệu sản xuất:
sở hữ tư nhân và sở hữu công cộng. Sở hữu công cộng là loại hình mà trong đó tư
liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên của mỗi cộng đồng. Nhờ cơ sở đó nên về mặt
nguyên tắc, các thành viên của mỗi cộng đồng bình đẳng với nhau trong tổ chức lao
động và trong phân phối sản phẩm. Do tư liệu sản xuất là tài sản chung của cả cộng
đống nên các quan hệ xã hội trong sản xuất vật chất và trong đời sống xã hội nói
chung, trở thành quan hệ hợp tác, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau. Ngược lại, trong các
chế độ tư hữu, do tư liệu chỉ nằm trong tay một số ít người nên của cải xã hội không
thuộc về số đông mà thuộc về số ít người đó. Các quan hệ xã hội, do vậy, trở thành
bất bình đẳng, quan hệ thống trị và bị trị. Đối kháng xã hội trong các xã hội tồn tại
chế độ tư hữu tiềm tàng khả năng trở thành đối kháng gay gắt. Các nhà kinh điển
của chủ nghĩa Mác- Lê nin đã chỉ rõ trong các chế độ sở hữu tư nhân của các xã hội
điển hình trong lịch sử( sở hữu tư nhân của xã hội chiếm hữu nô lệ, sở hữu tư nhân
trong chế độ phong kiến và sở hữu tư nhân trong chế độ tư bản) thì chế độ sở hữu tư
nhân tư bản chủ nghĩa là đỉnh cao của loại sở hữu này.
C. Mác và Ph. Ăngghen đã chứng minh rằng chế đọ tư bản chủ nghĩa không
phải là hình thức sở hữu cuối cùng trong lịch sử xã hội loài người. Chủ nghĩa xã hội
dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, dù sớm hay muộn cũng sẽ đóng vai trò
phủ định đối với chế độ tư hữu.
Trong hệ thống các quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt tổ chức, quản lý
sản xuất là các quan hệ có khả năng quyết định một cách trực tiếp quy mô, tốc độ,
hiệu quả và xu hướng của mỗi nền sản xuất cụ thể. Bằng cách nắm bắt các nhân tố
xác định của một nền sản xuất, điều khiển và tổ chức cách thức vận động của các
Trang 8
nhân tố đó, các quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất có khả năng đẩy nhanh hoặc
kìm hãm các quá trình khách quan của sản xuất.
Các quan hệ về mặt tổ chức và quản lý sản xuất luôn luôn có xu hướng thích
ứng với kiểu quan hệ sở hữu thống trị của mỗi nền sản xuất cụ thể. Do vậy, việc sử
dụng hợp lý các quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất sẽ cho phép toàn bộ hệ thống
quan hệ sản xuất có khả năng vươn tới tối ưu. Trong trường hợp ngược lại, các quan
hệ quản lý và tổ chức có thể làm biến dạng quan hệ sở hữu, ảnh hưởng tiêu cực đến
sự phát triển kinh tế- xã hội.
Hiện nay, nhờ ứng dụng những thành tựu to lớn của khoa học quản lý hiện
đại nên vai trò của các quan hệ tổ chức và quản lý đối với sản xuất, đặc biệt đối với
việc điều hành sản xuất, đặc biệt đối với việc điều hành sản xuất ở tầm vĩ mô, trên
thực tế đã tăng lên gấp bội so với vài thập kỷ trước đây. Đây là điều rất đáng lưu ý
trong việc phân tích và đánh giá vai trò của các quan hệ sản xuất hiện đại.
Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chức- quản lý, trong hệ thống các quan hệ
sản xuất, các quan hệ về mặt phân phối sản phẩm lao động cũng là những nhân tố có
ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vân động của toàn bộ nền kinh tế- xã hội.
Mặc dù bị phụ thuộc vào các quan hệ sở hữu và vào trình độ tổ chức quản lý
sản xuất, song do có khả năng kích thích trực tiếp vào lợi ích của con người, nên các
quan hệ phân phối là “ chất xúc tác” của các quá trình kinh tế- xã hội. Quan hệ phân
phối có thể thúc đẩy tốc độ và nhịp điệu của sự sản xuất, làm năng động toàn bộ đời
sống kinh tế- xã hội; hoặc trong trường hợp ngược lại, nó có khả năng kìm hãm sản
xuất, kìm hãm sự phát triển của xã hội.
4- Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của
lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau
mà tác động biện chứng lẫn nhau hình thành quy luật phổ biến của toàn bộ lịch sử
loài người- Quy luật về sự phù hợp quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của
lực lượng sản xuất. Quy luật này vạch ra tính chất phụ thuộc khách quan của quan
hệ sản xuất vào sự phát triển của lực lượng sản xuất. Đến lượt mình, quan hệ sản
xuất tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất.
Trang 9
Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất
Khuynh hướng của sản xuất xã hội là không ngừng biến đổi theo chiều
hướng tiến bộ. Sự biến đổi đó, xét đến cùng, bao giờ cũng bắt đâù từ sự biến đổi và
phát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là của công cụ lao động. Do vậy, lực
lượng sản xuất là yếu tố có tác dụng quyết định đối với sự biến đổi của phương thức
sản xuất: Trình độ của lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn của lịch sử loài
người thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người trong giai đoạn lịch sử
đó. Khái niệm trình độ của lực lượng sản xuất nói lên khả năng của con người
thông qua việc sử dụng công cụ lao động thực hiện quá trình cải biến giới tự nhiên
nhằm đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của mình. Trình độ của lực lượng sản
xuất thể hiện ở:
+ Trình độ tổ chức lao động xã hội.
+ Trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất.
+ Kinh nghiệm và kỹ năng lao động của con người.
+ Trình độ phân công lao động.
Trình độ của phân công lao động thể hiện rõ ràng nhất trình độ của lực lượng
sản xuất.
Bên cạnh khái niệm trình độ của lực lượng sản xuất, còn có khái niệm tính
chất của lực lượng sản xuất. Chính Ph. Ăngghen đã sử dụng khái niệm này để phân
tích lực lượng sản xuất trong các phương thức sản xuất khác nhau. Tính chất của lực
lượng sản xuất là tính chất của quá trình sản xuất ra sản phẩm. Quá trình này phụ
thuộc vào tính chất của tư liệu sản xuất và lao động. Lực lượng sản xuất có tính chất
cá nhân thể hiện tính chất của tư liệu sản xuất là sử dụng công cụ thủ công và tính
chất của lao động là lao động riêng lẻ. Những công cụ sản xuất như búa, rìu, cày
bừa, xa quay sợi do một người sử dụng để sản xuất vật dùng, không cần tới lao
động tập thể, lực lượng sản xuất cóa tính chất cá nhân. Khi máy móc ra đời đòi hỏi
phải có nhiều người mới sử dụng được, để làm ra một sản phẩm cần phải có sự hợp
tác của nhiều người. Mỗi người làm một bộ phận công việc mới hoàn thành được
sản phẩm ấy cho nên lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội hóa. Ph. Ăngghen đã
nhận định giai cấp tư sản “ không thể biến những tư liệu sản xuất có hạm ấy thành
những lực lượng sản xuất hùng mạnh mà lại không biến chúng từ chỗ là tư liệu sản
Trang 10
xuất do cá nhân sử dụng thành những tư liệu sản xuất xã hội, chỉ có thể được sử
dụng chung bởi một số đông người”( 8). Trên thực tế, tính chất và trình độ của lực
lượng sản xuất không tách biệt với nhau.
Quan hệ sản xuất được hình thành, biến đổi, phát triển do lực lượng sản xuất
quyết định.
Trong quá trình sản xuất để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao hơn,
con người luôn luôn tìm cách cải tiến, hoàn thiện công cụ lao động và chế tạo ra
những công vụ lao động mới, tinh xảo hơn. Cùng với sự biến đổi và phát triển của
công cụ lao động thì kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động, kỹ năng sản xuất,
kiến thức khoa học của con người cũng tiến bộ. Lực lượng sản xuất trở thành yếu tố
hoạt động nhất, cách mạng nhất. Còn quan hệ sản xuất là yếu tố tương đối ổn định,
có khuynh hướng lạc hậu hơn sự phát triển của lực lượng sản xuất. Lực lượng sản
xuất là nội dung của phương thức sản xuất, còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội
của nó. Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thì nội dung quyết định hình
thức; hình thức phụ thuộc vào nội dung; nội dung thay đổi trước, sau đó hình thức
mới biến đổi theo. Tất nhiên, trong quan hệ với nội dung , hình thức không phải là
mặt thụ động, nó cũng tác động trở lại đối với việc phát triển của nội dung.
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất cũng hình
thành, biến đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Sự phù
hợp đó là động lực cho lực lượng sản xuất pats triển mạnh mẽ. Nhưng, lực lượng
sản xuất luôn phát triển còn quan hệ sản xuất có xu hướng tương đối ổn định. Khi
lực lượng sản xuất phát triển lên một trình độ mới, quan hệ sản xuất không còn phù
hợp với nó nữa, trở thành chướng ngại đối với sự phát triển của nó, sẽ nảy sinh mâu
thuẫn gay gắt giữa hai mặt của phương thức sản xuất. Sự phát triển khách quan đó
tất yếu dẫn đến việc xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thay thế bằng một kiểu quan hệ sản
xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ mới của lực lượng sản xuất, mở đường
cho lực lượng sản xuất phát triển.
Việc xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thay thế nó bằng quan hệ sản xuất mới
cũng có nghĩa là sự diệt vong của một phương thức sản xuất đã lỗi thời và sự ra đời
của một phương thức mới. Trong xã hội có giai cấp đối kháng, mâu thuẫn giữa lực
lượng sản xuất mới và quan hệ sản xuất lỗi thời là cơ sở khách quan của các cuộc
Trang 11
đấu tranh giai cấp, đồng thời cũng là tiền đề tất yếu của các cuộc cách mạng xã hội.
C. Mác đã nhận định: “ Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực
lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có
trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là những
hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những
xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng
xã hội”( 9). đó là nội dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ
phát triển nhất định của lực lượng sản xuất.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử chứng minh vai trò quyết định của lực lượng sản
xuất đối với quan hệ sản xuất song cũng chỉ rõ rằng quan hệ sản xuất bao giờ cũng
thể hiện tính độc lập tương đối với lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất là hình
thức xã hội mà lực lượng sản xuất dựa vào đó đó để phát triển, nó tác động trở lại
đối với lực lượng sản xuất: có thể thúc đẩy hoặc lìm hãm sự phát triển của lực lượng
sản xuất.
Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất trở
thành động lực cơ bản thúc đẩy mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Ngược
lại, quan hệ sản xuất lỗi thời không còn phù hợp với tính chất và trình độ của lực
lượng sản xuất, bộc lộ mâu thuẫn gay gắt với lực lượng sản xuất thì trở thành “
xiềng xích trói buộc” kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Song tác dụng
kìm hãm đó chỉ là tạm thời, theo tính tất yếu khách quan, cuối cùng nó sẽ bị thay thế
bằng kiểu quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản
xuất.
Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản
xuất( thúc đẩy hoặc kìm hãm), vì nó quy định mục đích của sản xuất, quy định hệ
thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, quy định phương thức phân phối
phần của cải ít hay nhiều mà người lao động được hưởng. Do đó ảnh hưởng đến thái
độ của quảng đại quần chúng lao động- lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội; nó
tạo ra những điều kiện hoặc kích thích hoặc hạn chế việc cải tiến công cụ lao động,
áp dụng những thành tựu khoa học và kỹ thuật vào sản xuất, hợp tác và phân công
lao động
Trang 12
Tuy nhiên, không được hiểu một cách giản đơn tính tích cực của quan hệ sản
xuất chỉ là vai trò của những hình thức sở hữu. Mỗi kiểu quan hệ sản xuất là một hệ
thống, một chỉnh thể hữu cơ gồm cả ba mặt: quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và
quan hệ phân phối. Chỉ trong chỉnh thể đó, quan hệ sản xuất mới trở thành động lực
thúc đẩy con người hành động nhằm phát triển sản xuất.
Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực
lượng sản xuất là quy luật chung nhất của sự phát triển xã hội. Sự tác động của quy
luật này đã đưa xã hội loài người trải qua các phương thức sản xuất: công xã nguyên
thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và phương thức sản xuất cộng
sản tương lai.
Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực
lượng sản xuất là quy luật vận động, phát triển của xã hội qua sự thay thế kế tiếp
nhau từ thấp lên cao của các phương thức sản xuất. Nhưng không phải bất cứ nước
nào cũng phải nhất thiết, tuần tự trải qua tất cả các phương thức sản xuất mà loài
người đã biết đến. Thự tế phát triển của lịch sử nhân loại cho thấy, tùy theo điều
kiện lịch sử- cụ thể, một số nước có thể bỏ qua một hoặc một số phương thức sản
xuất để tiến lên phương thức sản xuất mới cao hơn. Đó chính là sự biểu hiện của
quy luật chung trong điều kiện cụ thể của mỗi nước. Quy luật chung chi phối sự vận
động phát triển của tất cả các nước; còn hình thức, bước đi cụ thể lại tùy thuộc vào
điều kiện cụ thể của mỗi nước.
Trang 13
II- Cơ sở lý luận của quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa
1-Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các
hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao
động thủ công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công
nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển và tiến
bộ khoa học- công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
2- Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Mỗi phương thức sản xuất xã hội nhất định có một cơ sở vật chất- kỹ thuật
tương ứng.
Cơ sở vật chất của một xã hội là toàn bộ hệ thống các yếu tố vật chất của lực
lượng sản xuất xã hội phù hợp với trình độ kỹ thuật( công nghệ) tương ứng mà lực
lượng lao động xã hội sử dụng, tác động vào để sản xuất ra của cải vật chất đáp ứng
nhu cầu xã hội.
Chỗ dựa để xem xét sự biến đổi của cơ sở vật chất- kỹ thuật của một xã hội
là: sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất; sự phát triển khoa học- kỹ thuật;
tính chất và trình độ của các quan hệ xã hội, đặc biệt là quan hệ sản xuất thống trị.
Nói cơ sở vật chất- kỹ thuật của một phương thức sản xuất nào đó là nói cơ
sở vật chất- kỹ thuật đó đạt đến một trình độ nhất định làm đặc trưng cho phương
Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét