Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

209465

KILOBOOKS.CO
- 5 -

Mơ hình xã hội phương Tây
- Chương II: Tìm hiểu ngun nhân sâu xa của sự can thiệp của các nước
TBCN đối với báo chí.
- Chương III: Đưa ra các hình thức can thiệp của nhà nước TBCN đối với
báo chí
- Chương IV: Hệ quả của q trình có bàn tay can thiệp của nhà nước
TBCN đối với báo chí
- Chương V: Liên hệ với báo chí Việt Nam để thấy rõ nền báo chí dân chủ
hoạt động tự do trong khn khổ cho phép và được bảo vệ quyền lợi.
Hy vọng rằng, cuốn tiểu luận này sẽ củng cố thêm cho người đọc lòng tin
vào tự do báo chí ở Việt Nam trong giai đoạn có nhiều biến động này. Tiểu
luận còn nhiều thiếu sót về dẫn chứng và nhiều chỗ phân tích, bình luận còn
chưa chặt chẽ. Vì vậy rất mong sự góp ý của Thầy và các bạn. Xin chân thành
cảm ơn!





THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.CO
- 6 -











CHƯƠNG I: KHÁI QT VỀ BÁO CHÍ TBCN
Báo chí ở các nước TBCN có gì khác so với báo chí ở các nước khác? Báo
chí TBCN hình thành, phát triển như thế nào? Và trong suốt q trình đó, có
thực sự báo chí TBCN ln mang trên mình “cây quyền trượng tự do ngơn
luận”? Trong chương này, chúng tơi sẽ giải quyết những vấn đề đó.

1. Đơi nét về CNTB
Nền văn hóa, quan điểm văn minh ảnh hưởng rất lớn tới phong cách,
đường lối của báo chí. Đặc biệt dưới hình thái xã hội tư bản, báo chí có
những nét riêng biệt nhất định. Tìm hiểu về cơ sở xã hội để thấy rõ hơn về bản
chất của báo chí tại đây.
Chủ nghĩa tư bản là một hình thái kinh tế – xã hội phát triển cao của xã hội
lồi người, xuất hiện đầu tiên tại châu Âu phơi thai và phát triển từ trong lòng
xã hội phong kiến châu Âu và chính thức được xác lập như một hình thái xã
hội tại Anh và Hà Lan ở thế kỷ thứ 18. Sau cách mạng Pháp cuối thế kỷ 18
hình thái chính trị của nhà nước tư bản chủ nghĩa dần dần chiếm ưu thế hồn
tồn tại châu Âu và loại bỏ dần hình thái nhà nước của chế độ phong kiến, q
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.CO
- 7 -
tộc. Và sau này hình thái chính trị – kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa lan ra
khắp châu Âu và thế giới.
Đặc điểm đặc trưng nhất của chủ nghĩa tư bản là quyền sở hữu tư nhân đối
với phương tiện sản xuất và quyền tự do kinh doanh được xã hội bảo vệ về
mặt luật pháp và được coi như một quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của
con người. Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa khơng loại trừ hình thức sở
hữu nhà nước và sở hữu tồn dân và đơi khi ở một số nước tại một số thời
điểm tỷ trọng của các hình thức sở hữu này chiếm khơng nhỏ, nhưng điều cơ
bản phân biệt xã hội của chủ nghĩa tư bản với xã hội đối lập với nó là xã hội
cộng sản là trong xã hội tư bản chủ nghĩa quyền tư hữu đối với phương tiện
sản xuất là thiêng liêng được xã hội và pháp luật bảo vệ, sự chuyển đổi quyền
sở hữu phải thơng qua giao dịch dân sự được pháp luật và xã hội quy định.
Còn chủ nghĩa cộng sản loại trừ quyền tư hữu đối với phương tiện sản xuất.
Trong hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa các cá nhân dùng sở hữu tư nhân
để tự do kinh doanh bằng hình thức các cơng ty tư nhân để thu lợi nhuận
thơng qua cạnh tranh trong các điều kiện của thị trường tự do: mọi sự phân
chia của cải đều thơng qua q trình mua bán của các thành phần tham gia vào
q trình kinh tế. Các cơng ty tư nhân tạo thành thành phần kinh tế tư nhân là
thành phần kinh tế chủ yếu của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Có thể nói các
yếu tố quyền tư hữu, thành phần kinh tế tư nhân, kinh doanh tự do, cạnh
tranh, động lực lợi nhuận, tính tự định hướng tự tổ chức, thị trường lao động,
định hướng thị trường, bất bình đẳng trong phân phối của cải là các khái
niệm gắn liền với nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.
2. Các thời kì truyền thơng chính trị
Chúng tơi tạm chia truyền thơng trong chính trị ra làm 4 thời kì, đánh dấu
những bước phát triển quan trọng sứ mệnh chính trị của truyền thơng. Từ đó
thấy rằng, ở nhà nước TBCN, truyền thơng khơng thể tách rời chính trị và
khơng thể chối bỏ nhiệm vụ là cơng cụ của chính quyền.
2.1 Thời kỳ ‘0’
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.CO
- 8 -
Có thể được xem là thời kỳ khai sinh nền truyền thơng. Truyền thơng vào
lúc này chủ yếu là báo chí, mà báo chí lại đi đơi với chính trị (chính quyền)
ngay từ ban đầu.
Thí dụ, đối với Úc, báo chí là một chi nhánh của chính quyền, điển hình
như tờ Sydney Gazette xuất bản năm 1803, chủ yếu là để đưa thơng tin của
chính quyền đến người dân, và mãi cho đến năm 1826, chính quyền Úc gần
như nắm hồn tồn quyền hành đối với báo chí (Theo Schultz, Julianne,
Reviving the Fourth Estate. Democracy, Accountability and them media,
Cambridge University Press, Cambridge, 1998 - Trang 81). Tuy nhiên, vào
năm 1824, một số tờ báo bắt đầu được xuất bản tại tiểu bang NSW mà khơng
có sự đỡ đầu nào từ chính quyền, từ đó khai mào cho sự hoạt động độc lập sau
này. Tuy nhiên, cả một thế kỷ tiếp theo đó, quan hệ giữa truyền thơng và
chính trị là một sự chồng chéo phức tạp giữa kinh tế cũng như quyền lực và
ảnh hưởng. Ngay cả đến cuối thập niên 1930, truyền thơng vẫn chủ yếu thiên
đảng (tức nghiên về một đảng nào đó), chứ vẫn chưa đứng khách quan, độc
lập Ơng Keith Murdoch, bố của Rupert Murdoch (là một trong những chủ
nhân sở hữu nhiều phương tiện truyền thơng đại chúng nhất trong nhiều thập
niên qua), lúc đó chỉ sở hữu vài tờ báo trên nước Úc, nhưng từng tun bố về
cựu Thủ Tướng Úc, Joseph Lyons (1932-1939), rằng "Tơi đã đưa ơng ấy vào
ghế đó và tơi sẽ đưa ơng ra khỏi ghế đó" (ơng Murdoch đã thực sự làm được
việc đó). Cho nên, nói tóm lại, quan hệ giữa truyền thơng và chính trị là một
mối phức tạp, ln thay đổi nhưng vẫn ln chặt chẽ khơng thể tách rời, dù
trên lý thuyết (như hiến pháp) nó phải được tách rời hẳn hoi.
2.2. Thời kỳ 1
Đó là hai thập niên sau Thế chiến thứ hai, được xem là thời kỳ hồng kim
của các đảng phái chính trị. Trong thời gian này, hệ thống đảng là nơi chủ
chốt đề xướng các cuộc tranh luận để cải tổ xã hội, và là nơi chủ yếu quyết
định chính sách. Cử tri thì thường có một sự liên hệ (cảm tình viên, ủng hộ
viên ), với các đảng phái vững mạnh và hiện hữu lâu dài. Sự tin tưởng và
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.CO
- 9 -
đồng thuận của quần chúng đối với các định chế chính trị rất cao, do đó truyền
thơng chính trị chủ yếu phụ thuộc vào niềm tin cũng như các định chế chính
trị vững mạnh và ổn định. Vào lúc này, các nhà lãnh đạo chính trị thường nói
về những vấn đề họ quan tâm, đặc biệt là những thay đổi họ muốn thấy từ
chính quyền cũng như các chính sách và ngun tắc mà phân biệt họ với các
phiá đối lập. Nói chung, vào lúc này, các thơng điệp chính trị đúng đắn thường
dễ được các phương tiện truyền thơng loan tải, phổ biến.
2.3. Thời kỳ 2
Đó là thời điểm mà truyền hình xuất hiện, với một số đài giới hạn phát
hình tồn quốc, và sau đó trở thành phương tiện truyền thơng chính trị chính.
Sự xuất hiện của truyền hình, thể hiện rõ nhất qua cuộc tranh cử tổng thống
Hoa Kỳ năm 1960 giữa John Kennedy và Richard Nixon, đã thay đổi bộ mặt
truyền thơng chính trị. Lúc này, phần lớn các cơ quan truyền thơng bắt đầu
đứng độc lập, khơng nghiêng hẳn về đảng nào, đề cao tính cách cơng bằng,
khơng thiên vị, khách quan và trung lập. Các giá trị này dần dần được xem là
tiêu chuẩn mẫu mực để đánh giá sản phẩm truyền thơng. Do các yếu tố nêu
trên, các đảng chính trị khơng còn nhiều ảnh hưởng như trước đối với truyền
thơng, và ngay cả các cơ quan truyền thơng do các đảng chính trị ni dưỡng
cũng khơng thể hoạt động hiệu quả trong thời kỳ cạnh tranh này, bởi cảm
nhận của đa số người dân là khơng còn xem nó là khách quan và trung thực
nữa. Do đó, các đảng chính trị phải đưa ra những sáng kiến và chiến thuật mới
để thu hút giới truyền thơng, để được truyền thơng loan tải tin tức theo chiều
hướng có lợi cho mình, và để ảnh hưởng lên chương trình nghị sự của giới
truyền thơng, ví dụ như họp báo là hình thức có thể chủ động để đưa ra các
quan điểm đã chuẩn bị sẵn. Cũng vào lúc này, các chủ đề vận động tranh cử
phải được thử nghiệm trước, và các chính trị gia khơng được khuyến khích nói
ra những gì mình suy nghĩ như trước kia mà thường phải tham khảo ý kiến
của giới chun gia để lượng định kết quả (tích cực hay tiêu cực) trước khi sự
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.CO
- 10 -
việc xảy ra, để rồi đi đến kết luận và lấy quyết định nên hay khơng nên nói
những gì qua truyền thơng.
2.4. Thời kỳ 3 (đã, đang và vẫn còn tiếp diễn)
Giai đoạn này được đánh dấu bởi sự tràn ngập của các phương tiện truyền
thơng đại chúng, từ báo chí, truyền thanh, truyền hình, đến truyền thơng mới
(Internet). Hai giáo sư của lĩnh vực truyền thơng Blumler và Kavanagh cho
rằng có 5 chiều hướng bao gồm các đặc điểm truyền thơng chính trị như sau:
1- Sự gia tăng chun nghiệp trong cung cách vận động chính trị
2- Sự gia tăng áp lực cạnh tranh
3- Đại chúng hố và chủ nghĩa quần chúng phản trí thức (hay phản ưu tú,
tức Anti-elitist)
4- Sự đa dạng hố ly tâm (Centrifugal diversification)
5- Sự tiếp nhận của khán - thính - độc giả về chính trị
Để dễ phân tích và nhận định, xin tóm tắt 5 đặc điểm lại như sau:
Gia tăng sự cạnh tranh và vận động chính trị: Trong thời đại này, các
nguồn gây ra áp lực trên chính trị và truyền thơng là nhiều hơn bội phần so với
hai thời kỳ trước. Trong mơi trường mới như thế, để thơng tin, thuyết phục
hay đặt để vấn đề gì, chính trị phải có khả năng thu hút các nhà báo, chủ báo
và khán - thính - độc giả. Sự tràn ngập thơng tin đã làm cho khán thính độc
giả tự nhiên thấy cần phải chọn cái gì thích hợp với mình nhất, từ đó văn hố
“lựa và chọn” nảy sinh, cho nên truyền thơng khơng còn mang nặng tính thiên
đảng nữa. Những chương trình chính trị hồn tồn nghiêm chỉnh khơng còn
được xem là thu hút đối với đại đa số quần chúng hỗn hợp (thay vào đó là
phương cách nửa thơng tin nửa giải trí - infotainment). Giới chính trị (đảng
phái và chính trị gia) đã phải tìm phương cách mới để ảnh hưởng lên truyền
thơng, và do đó phải lệ thuộc khá nhiều vào sự giúp đỡ của giới chun mơn
trong lãnh vực truyền thơng để trau dồi, gia tăng khả năng thuyết phục. Kể từ
đó, đại đa số các chính quyền và đảng phái ở Hoa Kỳ, Anh, Úc đều bắt đầu
hình thành các bộ phận truyền thơng (tuy trước đây đã có nhưng khơng mang
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.CO
- 11 -
tầm quan trọng, chun mơn và chiến lược như lúc này) để quản lý thơng tin
và quan hệ quần chúng.
Đại chúng hố, chủ nghĩa quần chúng và đa dạng hố theo chiều hướng
phản trí thức: Đầu thập niên 1990 xuất hiện các làn sóng đại chúng hố và chủ
nghĩa quần chúng mang tính cách phản trí thức trong lĩnh vực chính trị và
truyền thơng. Trong các thời kỳ trước, thí dụ như thời kỳ 2, khán thính độc giả
nói chung rất giống nhau, và nội dung các chương trình của truyền thơng đại
chúng thật ra khơng khác nhau nhiều lắm. Phần lớn, truyền thơng chính trị là
từ trên đi xuống, và đa số các vấn đề (chính sách, chiến lược v.v ) được
hoạch định và thảo luận trong đảng, nhưng cũng chủ yếu do giới ưu tú/ trí
thức cầm đầu. Những thơng điệp chính trị thì nhắm vào đại đa số cử tri. Tuy
nhiên, trong thời kỳ 3, khi có q nhiều chọn lựa thì số lượng khán thính độc
giả cho bất cứ một chương trình nào đó đều bị giảm đi, và họ có thể chọn
nghe hoặc khơng nghe, do đó các chương trình tin tức mang tính cách nặng nề
và áp đặt rất khó được chấp nhận như trước. Các chương trình truyền thơng về
chính trị phải được thực hiện một cách hấp dẫn và lơi cuốn hơn. Giới chính trị
phải nói theo ngơn ngữ bình dân hơn, và phải tỏ ra quan tâm đến phúc lợi của
người dân thường, điển hình qua các chương trình hội luận (talk-shows, hay
talk-back radios). Sự xuất hiện của phương tiện truyền thơng mới Internet, và
chính trị trên Internet, đã ngày càng gây nhiều ảnh hưởng và trở thành một
phương tiện có thể dùng để vận động chính trị cho các nhóm có chung quyền
lợi, sở thích ở trong hay ngồi lục địa quốc gia.
Khả năng tiếp thu của dân chúng về chính trị: Khi văn hố “lựa và chọn”
xuất hiện, và khi thơng tin bị tràn ngập và do ảnh hưởng của các quan điểm
chính trị khác nhau tác động, cách thu nhận các luồng thơng tin của khán thính
độc giả cũng bị ảnh hưởng sâu rộng. Người dân được tiếp cận với các loại
chương trình chính trị mang tính cách ngoạn mục, gây cảm xúc mạnh, và lắm
khi tiêu cực. Ngồi ra, họ cũng tiếp thu luồng thơng tin chỗ này và chỗ kia nên
cũng khơng biết hư thực ra sao, và khơng thể đan kết lại với nhau để hệ thống
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.CO
- 12 -
hố và khơng thể tiêu hố nổi lượng thơng tin đó. Cho nên nhiều khi mức độ
hiểu biết/ kiến thức của dân chúng có thể kết luận là phát triển bề rộng nhiều
hơn là bề sâu.
Nói chung, truyền thơng chính trị đóng vai trò vơ cùng quan trọng, nếu
khơng muốn nói hàng đầu, đối với mọi hoạt động chính trị và mọi giới chính
trị trong thời đại này. Cho nên, mọi quyết định chính trị hiện nay, khơng nhiều
thì ít, đều bao gồm yếu tố truyền thơng trong đó.





3. Báo chí ở xã hội TBCN qua một số giai đoạn tiêu biểu
Chúng tơi tổng hợp 2 giai đoạn theo cách phân loại của Pierre Albert
trong bộ sách Que sais je?: giai đoạn thế kỉ 17, 18- báo chí có sự tiến bộ và
đa dạng hóa và giai đoạn đầu thế kỉ 19 đến năm 1871- thời kì cơng nghiệp
hóa và dân chủ hóa báo chí. Qua nền báo chí ở nhiều nước TBCN trong hai
giai đoạn này, chúng tơi làm rõ được phần nào bức tranh mang tên Tự Do
của báo chí TBCN. Từ khi ra đời đến khi bắt đầu có những bước phát triển,
báo chí TBCN chưa từng có khoảng thời gian “tự do” theo đúng nghĩa mà
TBCN vẫn rêu rao.
Kiểm sốt truyền thơng - Những thành tích ngoạn mục của tun truyền
(Media control - The spectacular achievements of propaganda) của Noam
Chomsky là một cuốn sách viết về vấn đề và tư tưởng trong các xã hội dân
chủ đương đại. Rất nhiều người lầm tưởng rằng vấn đề kiểm sốt truyền thơng
và tư tưởng chỉ có trong các xã hội tồn trị, nhưng thực chất nó tồn tại trong
tất cả các quốc gia hiện nay, kể cả Mỹ và Tây Âu, tuy ở các hình thức khác
nhau thơ thiển hay tinh vi, đơn giản hay phức hợp, cơng khai hay che giấu.
Chomsky viết rằng: "Tun truyền của nhà nước, khi được các tầng lớp có
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.CO
- 13 -
học ủng hộ và khi khơng có sự trệch hướng được cho phép, có thể có hiệu quả
lớn. Đó là bài học được Hitler và nhiều người khác học thuộc và nó vẫn còn
được tiếp tục cho đến tận hơm nay." Nền dân chủ khán giả và quan hệ cơng
chúng chính là các hình thức kiểm sốt truyền thơng và tư tưởng hữu hiệu.
Mục đích của quan hệ cơng chúng (public relations) chính là "kiểm sốt nhận
thức của cơng chúng" (Chomsky sử dụng từ public mind). Nhiều người lầm
tưởng rằng quan hệ cơng chúng chỉ là một hình thức quảng cáo hay kinh
doanh thuần túy. Nhưng đó chỉ là bề nổi, là bộ mặt bên ngoải, còn bản chất
bên trong chính là kiểm sốt tư tưởng thơng qua truyền thơng. Khi hệ thống
chính trị áp dụng một cách nhuần nhuyễn quan hệ cơng chúng đó là lúc tun
truyền nhà nước thu được các kết quả ngoạn mục. Chomsky còn có nhận xét
thế này: "Lý thuyết dân chủ tự do và chủ nghĩa Marx - Lenin rất gần nhau
trong những giả định tư tưởng chung của chúng."
Chomsky nêu ví dụ rất hay về tun truyền qua hình thức quan hệ cơng
chúng. Đó là trận đình cơng ngành thép vào năm 1937 ở Tây Pennsyvalnia.
Các phương thức cũ chống đình cơng khơng hiệu quả. Và thế là người ta nghĩ
ra cách mới chống đình cơng: quan hệ cơng chúng. Mục đích của quan hệ
cơng chúng là làm sao để tất cả mọi người phản đối những người đình cơng,
và cho mọi người thấy những người đình cơng như là những kẻ phá hoại và
gây hại đối với những lợi ích chung và cơng cộng. Và thế là các giá trị Mỹ
(Chomsky dùng từ Americanism, chúng tơi tạm dịch là các giá trị Mỹ) được
đề cao cổ vũ mọi người trong một tinh thần hòa hợp. Truyền thơng được huy
động làm việc này. Ai có thể chống lại giá trị Mỹ? Ai có thể chống lại sự hòa
hợp? Khơng ai cả. Nhận thức của cơng chúng được điều chỉnh theo tun
truyền. Mọi người cứ tưởng rằng tư tưởng và nhận thức của mình rất được tự
do, rất được dân chủ, nhưng thực chất đều đã bị điều chỉnh, đã bị kiểm sốt
một cách rất tinh vi. Và kết quả đình cơng bị dập tắt. Những khẩu hiệu được
đưa ra, những khẩu hiệu khơng ai cảm thấy khơng thể đồng ý hay phản đối,
nhưng thực ra rỗng tuếch, khơng chứa bất cứ một nội dung thực tế nào, làm
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.CO
- 14 -
cho cơng chúng khơng còn nhận ra bản chất thực sự của vấn đề.
Ví dụ gần đây, khơng phải do Chomsky viết trong sách, là chiến dịch tun
truyền Iraq có vũ khí hủy diệt hàng loạt. Cực kỳ hiệu quả, khơng chỉ trong
nước Mỹ, mà gần như trên tồn thế giới. Điều kỳ lạ là khi khơng ai có thể tìm
ra vũ khí hủy diệt ở Iraq, cơng chúng vẫn khơng cảm thấy mình bị lừa, hay bị
tun truyền. Sự kiểm sốt truyền thơng và tư tưởng có thể nói đạt tới cảnh
giới rất cao, cấp độ mà giới truyền thơng ở một số nước còn lâu mới đạt tới.
Sự thành cơng của tun truyền nhà nước khơng khỏi khơng có sự ủng hộ của
tầng lớp có học. Nhưng có một điều lạ nữa là những tầng lớp có học ủng hộ
tun truyền này khơng bị (hay tự) dán mác "phò". (Tài liệu dịch).
Trích tiểu sử tác giả: Avram Noam Chomsky, Ph.D (sinh 7 tháng 12, 1928
tại East Oak Lane thuộc vùng ngoại ơ của Philadelphia, Pennsylvania) là
Giáo sư về hưu (Emeritus) về ngơn ngữ học tại Massachusetts Institute of
Technology. Chomsky nhận bằng Ph.D về ngơn ngữ học từ Đại học
Pennsylvania vào năm 1955. Ơng tiến hành các nghiên cứu cho luận án của
mình trong suốt 4 năm ở Đại học Harvard như là Harvard Junior Fellow.
Trong luận án tiến sỹ, ơng bắt đầu phát triển một số ý tưởng về ngơn ngữ của
mình, phát triển thêm trong cuốn sách xuất bản năm 1957 Syntactic
Structures (Các cấu trúc ngữ pháp), có lẽ là cơng trình được nhiều người biết
nhất trong ngành ngơn ngữ học. Chomsky gia nhập như là giảng viên của
Massachusetts Institute of Technology vào năm 1955 và vào 1961 được phong
hàm giáo sư trong Khoa Ngơn ngữ hiện đại và ngơn ngữ học (nay là Khoa
ngơn ngữ học và Triết học). Từ 1966 đến 1976 ơng nắm Ferrari P. Ward
Professorship of Modern Languages and Linguistics. Vào 1976 ơng được
phong Institute Professor. Chomsky giảng dạy tại MIT một cách liên tục trong
50 năm qua.
Và 2 giai đoạn phát triển của lịch sử báo chí sau đây sẽ chứng minh nhận
định kiểm sốt truyền thơng của Noam Chomsky:
3.1. Thế kỉ XVII và XVIII
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Xem chi tiết: 209465


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét