Lạm phát và tác động của lạm phát tới nền kinh tế
- Lạm phát không chỉ bao hàm một tính chất thuần tuý tiền tệ. Cần thiết
phải kể đến các yếu tố khác như yếu tố hiện vật, tâm lý và trọng lượng của
các yếu tố xã hội.
1. 1. 2 Tỷ lệ lạm phát
Mục trên chúng ta đã xem xét Lạm phát về mặt định tính, còn về mặt
định lượng thì sao? Làm thế nào để đo lường được sự gia tăng của giá cả?
Lạm phát được đo bằng chỉ tiêu nào?
- Lạm phát là hiện tượng tiền giấy tràn đầy các kênh lưu thông tiền tệ,
vượt quá các nhu cầu kinh tế thực tế làm cho tiền bị mất giá so với toàn bộ
sản phẩm hàng hoá, thể hiện là sự tăng lên liên tục của mức giá trung bình
theo thời gian. Lạm phát thường được đo bằng chỉ số giá cả.
+ Mức giá trung bình thường lấy mức giá cả của những mặt hàng tiêu
dùng làm cơ sở (các nhóm chính là hàng lương thực, thực phẩm, quần áo, nhà
cửa, chất đốt, vật tư y tế). Tính chỉ số giá tiêu dùng để từ đó đo Lạm phát.
Công thức tính chỉ số giá tiêu dùng có thể được viết như sau:
CPI=∑cpi. d
CPI ( Consumer Price Index ) chỉ số giá tiêu dùng của cả giỏ hàng hoá
cpi: Chỉ số giá cả của từng loại hàng hoá trong giỏ hàng hoá đó. d:
Tỷ trọng mức tiêu dùng trong từng loại hàng hoá, nhóm hàng hoá trong giỏ.
Hay:
CPI t =
P
t
gạo
x 100 x
phần chi
cho gạo
+
p
t
chất đốt
x 100 x
phần chi
cho chất
+
Những thay đổi của
giá cả được tính với
p
0
gạo p
0
chất đốt
Trong đó:
CPI
t
: giá trị của CPI trong năm t
pt gạo : giá gạo trong năm t
p
o
gạo : giá gạo trong năm gốc
Chỉ số giá tiêu dùng phản ánh cơ cấu tiêu dùng của xã hội. Nhược điểm
của CPI là chỉ số này không phản ánh được sự chuyển động của mọi giá cả vì
trong đó nặng về giá của hàng hoá hơn là giá của dịch vụ. Trong khi đó, cầu
của người tiêu dùng lại ngả về phía giá dịch vụ vì nhữmg loại giá này tăng
nhanh hơn giá hàng hoá. Mặc dù có nhược điểm như vậy, chỉ số giá tiêu dùng
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Lạm phát và tác động của lạm phát tới nền kinh tế
vẫn được sử dụng rộng rãi hơn cả. Vì họ thấy ở đấy trị số giá sinh hoạt, về
phía các nghiệp đoàn thường dựa vào đó trong các yêu sách về tiền lương của
họ. Chỉ số này thường có giá trị kỹ thuật cao hơn các chỉ số giá khác và được
xây dựng, công bố thường xuyên, đều đặn.
+ Ngoài chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số thứ hai thường được sử dụng là
chỉ số giá bán buôn_giá cả sản xuất PPI (Producer Price Index). PPI phản ánh
sự biến động của giá cả đầu vào, thực chất là biến động giá cả chi phí sản
xuất. Nó được xây dựng để tính giá cả trong lần bán đầu tiên do người sản
xuất ấn định. Chỉ số này rất có ích vì nó được tính chi tiết sát với những thay
đổi của thực tế. Song PPI lại quá chuyên môn, chỉ liên quan tới nguyên liệu
và các bán thành phẩm mà loại trừ sản phẩm hoàn chỉnh, dịch vụ. Do đó nó
không thể biểu thị cho sức mua, không phân biệt loại hàng của đồng tiền.
+Bên cạnh đó, chỉ số giảm phát GNP cũng được sử dụng trong đo
lường lạm phát. Chỉ số này toàn diện hơn CPI vì nó bao gồm giá của tất cả
các loại hàng hoá dịch vụ trong GNP.
Chỉ số giảm phát GNP = GDP danh nghĩa/GDP thực tế
- Triệu chứng của lạm phát không chỉ nằm trong lĩnh vự giá cả. Trong
nhiều trường hợp, tỷ suất tiền lương được nâng lên so với mức tăng trưởng
trung bình của năng suất cũng có đặc điểm như giá cả lên cao. Vì các chi phí
về nhân công lên cao là báo hiệu chắc chắn của xu hướng lạm phát sắp tới.
Một trong những khó khăn về kỹ thuật của việc đo lường hiện tượng lạm
phát là sự lựa chọn điểm xuất phát dùnglàm căn cứ. Vào thời điểm được chọn
lại chẳng có gì chứng tỏ là giá cả đã được cân đối. Nhất là với sự tác động của
thuế hoặc các chính sách khác về kiểm soát giá cả, làm cho việc lựa chọn
những năm gốc thành bấp bênh. Đặc biệt trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hoá
như hiện nay, chỉ số giá tiêu dùng khác nhau từ nước này sang nước kia, còn
chỉ số giá sản xuất chỉ mang tính bộ phận và đầu cơ. Do vậy, cái chuẩn tốt
nhất có lẽ là chỉ số giá các sản phẩm công nghiệp thường được dùng làm hàng
trao đổi rộng rãi giữa các quốc gia. Bởi nó biểu thị rõ những biến động của
chi phí sản xuất cũng như những biến động trong sức mua của người tiêu
dùng.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Lạm phát và tác động của lạm phát tới nền kinh tế
Tỷ lệ lạm phát là thước đo chủ yếu của lạm phát trong một thời kỳ. Quy
mô và sự biến động của nó phản ánh xu hướng và quy mô của lạm phát.
Tỉ lệ lạm phát được tính theo công thức:
%x
I
I
gp
p
p
1001
1
−=
−
Trong đó:
gp : tỷ lệ lạm phát(%)
I
p
: chỉ số giá cả của thời kỳ nghiên c0ứu
I
p-1
: chỉ số giá cả thời kỳ trước đó.
Khi lạm phát xảy ra thì đồng nghĩa với việc tăng lên của chỉ số giá cả,
nên mức cầu tiền danh nghĩa cũng tăng theo để đảm bảo thu mua khối lượng
hàng hoá cần thiết đã dự định. Như vậy thực chất của mức cầu tiền là cầu về
cán cân tiền tệ thực tế.
Nhưng trong thực tế thì lượng tiền danh nghĩa tăng nhanh hơn cả do vậy
tỉ lệ lạm phát cũng được tính bằng mức tăng lượng cung tiền danh nghĩa trừ
đi mức tăng nhu cầu tiền thực tế.
Theo lý thuyết định lượng đơn giản nói rằng: Do thu nhập thực tế và lãi
suất thường chỉ thay đổi nhỏ một vài phần trăm mỗi năm nên nhu cầu tiền
thực tế thường cũng chỉ thay đổi một cách chậm chạp. Khi lượng tiền danh
nghĩa tăng nhanh, về cơ bản nó kéo theo sự tăng nhanh của giá cả để đảm bảo
mức cung tiền thực tế chỉ thay đổi một cách chậm chạp tương ứng với những
thay đổi về nhu cầu tiền tệ. Lập luận cơ bản của lý thuyết định lượng về tiền
tệ là ở chỗ các biến số thực tế thường thay đổi một cách chậm chạp do đó
những thay đổi rất lớn trong một biến danh nghĩa (lượng tiền danh nghĩa)
phải kéo theo những thay đổi rất lớn trong các đại lượng danh nghĩa khác (giá
cả và tiền lương) để duy trì lượng cung tiền thực tế tại những giá trị cân bằng
của chúng.
1. 1. 3 Phân loại lạm phát
Có rất nhiều cách phân loại lạm phát dựa trên các tiêu thức khác nhau.
Mỗi tiêu thức sẽ cho một hướng nhìn riêng về lạm phát. Người ta phân biệt
lạm phát lan dần biểu hiện ở sự tăng giá cả liên tục, thường xuyên và lạm
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Lạm phát và tác động của lạm phát tới nền kinh tế
phát lan nhanh trong đó giá cả tăng lên vùn vụt và nhảy vọt. Tùy theo quá
trình lạm phát bao trùm khu vực này hay khu vực khác mà lạm phát được
chia thành lạm phát thế giới bao trùm một nhóm nước và lạm phát cục bộ chỉ
phát triển trong phạm vi một nước.
- Phổ biến là phân loại lạm phát về mặt định lượng. Tuỳ theo mức độ
của tỉ lệ % lạm phát tính theo năm mà người ta chia lạm phát thành ba loại
sau:lạm phát vừa phải(một con số mỗi năm), lạm phát phi mã (hai con số mỗi
năm) và siêu lạm phát.
Lạm phát vừa phải.
Lạm phát này xảy ra khi giá cả tăng lên chậm ở mức một con số hay ở
mức dưới 10%/năm. Hiện ở phần lớn các nước tư bản chủ nghĩa đang có lạm
phát vừa phải. Trong điều kiện lạm phát vừa phải giá cả tăng chậm thường
xấp xỉ bằng mức tăng tiền lương hoặc cao hơn một chút. Do vậy đồng tiền
không bị mất giá hoặc mất giá không lớn. Lạm phát ở mức độ này không gây
ra những tác động đáng kể đối với nền kinh tế. Lạm phát vừa phải chính là
mức lạm phát mà nền kinh tế chấp nhận được.
Lạm phát phi mã
Lạm phát phi mã xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2 con
số trong một năm. Mức lạm phát 2 chữ số thấp (11, 12, 13%/năm) nói chung
những tác động tiêu cực của nó là không đáng kể, nền kinh tế vẫn có thể chấp
nhận được. Nhưng khi tỷ lệ tăng giá ở mức 2 con số cao, lạm phát sẽ trở
thành kẻ thù của sản xuất và thu nhập. Lạm phát sẽ gây ra những biến dạng
kinh tế, gây mất ổn định XH nghiêm trọng. Khi các hợp đồng kinh tế được ký
kết theo các chỉ số giá hoặc theo một đồng ngoại tệ mạnh nào đó, nếu lạm
phát xảy ra với sự tăng lên rất nhanh của chỉ số giá cả làm cho đồng tiền mất
giá so với các chỉ số giá hoặc đồng ngoại tệ đó sẽ làm cho các chủ doanh
nghiệp, các chủ hợp đồng. . . có thể ″phất″ lên và trái lại cũng có các chủ
doanh nghiệp, các ngành nghề suy sụp thậm chí phải chuyển hướng sản xuất kinh
doanh.
Siêu lạm phát
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Lạm phát và tác động của lạm phát tới nền kinh tế
Siêu lạm phát xảy ra khi lạm phát đột ngột tăng lên với tốc độ cao vượt
xa lạm phát phi mã, ở mức 3 con số. Siêu lạm phát thường gây ra những thiệt
hại nghiêm trọng và sâu sắc. Nó phá vỡ quy luật lưu thông tiền tệ, lưu thông
hàng hoá gặp nhiều khó khăn, xã hội đầy những tiêu cực, nền kinh tế suy sụp
trì trệ không thể phát triển được. Lạm phát ở Đức năm 1922-1923 là hình ảnh
siêu lạm phát điển hình trong lịch sử siêu lạm phát thế giới: giá cả tăng từ một
đến mười triệu lần; ở Việt Nam điển hình của siêu lạm phát là thời kỳ 1986-
1988 (nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp) lạm phát đã ở mức 3 con số và
ở mức cao.
Nếu được phép nói ẩn dụ thì có một động vật học trong lạm phát. Nếu
phát triển nhẹ nhàng thì như loài bò sát, nếu tiến mạnh hơn thì như loài ngựa,
lạm phát có thể chỉ bò đi hoặc trở thành phi mã. Trong cái vườn thú ấy còn
phải dành chỗ cho loài dê có những bước nhảy bất thường.
- Bên cạnh đó, người ta cũng tiến hành phân loại lạm phát xét về mặt
định tính.
Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng
+ Lạm phát cân bằng: khi mà tỷ lệ lạm phát tăng tương ứng với thu
nhập, do vậy lạm phát không ảnh hưởng tới đời sống của người lao động.
+ Lạm phát không cân bằng: khi mà tỷ lệ lạm phát tăng không tương
ứng với thu nhập. Trên thực tế, lạm phát không cân bằng thường xảy ra nhất.
Lạm phát dự đoán trước và lạm phát bất thường
+ Lạm phát dự đoán trước: đó là lạm phát xảy ra trong một thời gian
tương đối dài với tỷ lệ lạm phát hàng năm khá đều đặn, ổn định. Do vây,
người ta có thể dự đoán trước được tỷ lệ lạm phát cho những năm tiếp theo.
Về mặt tâm lý, người dân đã quen với tình hình lạm phát đó và người ta đã có
những chuẩn bị để thích nghi với tình trạng lạm phát này.
+ Lạm phát bất thường: là lạm phát xảy ra co tính đột biến mà trước
đó chưa hề xuất hiện. Do vậy, về tâm lý, cuộc sống và thói quen của mọi
người đều chưa thích nghi được. Lạm phát bất thường gây ra những cú sốc
cho nền kinh tế và sự thiếu tin tưởng của người dân vào chính quyền đương
đại.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Lạm phát và tác động của lạm phát tới nền kinh tế
1. 2 Nguyên nhân gây ra lạm phát
1.2.1. Lạm phát do tiền tệ
1.2.1.1. Lý thuyết về lượng của tiền tệ
- Hình thức hoá thông thường nhất của lý thuyết đó là công thức Irving
Fisher: M. V=P. T
Trong đó M là khối lượng tiền tệ lưu thông
V là tốc độ lưu thông của tiền tệ
P là mặt bằng chung của giá cả
T là khối lượng giao dịch phải bảo đảm
ý nghĩa của công thức đó là mọi sự tăng tiền tệ cao hơn tăng sản xuất thực tế
đều được thể hiện (đối với một tốc độ lưu thông không đổi của tiền tệ) ra
bằng sự hiệu chỉnh giá cả chung, sao cho giá trị tổng thể của trao đổi bằng giá
trị của khối lượng tiền tệ mới đang lưu thông. Trong thời han ngắn hoặc trong
trường hợp bộ máy sản xuất không đáp ứng được nhu cầu tăng lên, biến động
của giá cả sẽ tỷ lệ thuận với biến động của khối lượng tiền tệ.
- Một cách diễn đạt mới của quan hệ về lượng được gọi là Phương trình
Cambridge _ gắn với các công trình của Marshall: M = k. P. Y
Trong đó M là khối lương tiền tệ lưu thông
Y là thu nhập thực tế của quốc gia
P là mặt bằng chung của giá cả
k là hệ số biểu thị tỉ số giữa khối lượng tiền tệ và thu nhập phụ thuộc vào
nhiều yếu tố không đơn thuần là một hệ số kỹ thuật.
Sự tiếp cận này là lý thuyết về lượng với ý nghĩa độ lớn của khối lượng
tiền tệ quyết định giá trị của thu nhập quốc gia, nhưng nếu nó tìm cách đưa
tiền tệ vào nền kinh tế thì lại bỏ qua các quan hệ giữa cung và cầu của tiền
tệ .
1.2.1.2. Cung ứng tiền tệ và lạm phát
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, sự tiếp cận của các nhà tiền tệ học bước
vào thời kỳ mới, đặc biệt với công trình của Friedman. Ông đã định rõ nhu
cầu tiền tệ nhờ hàm Md/P = f(y, w, RM, RB, RE, Gp, u). Trong đó
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Lạm phát và tác động của lạm phát tới nền kinh tế
Md biểu thị nhu cầu tiền tệ
P là mặt bằng giá
y là thu nhập dự kiến tính bằng bình quân thu nhập hiện tại và quá khứ
đã chỉnh lý
w là tỷ lệ giữa thu nhập từ thiết bị và con người
RM, RB, RE là hiệu suất danh nghĩa dự kiến của tiền tệ, trái phiếu và
cổ phần.
Gp là tỷ lệ lạm phát dự kiến
u là biến lượng biểu thị tất cả những yếu tố khác có thể giải thích
những nhu cầu cá nhân và tiền tệ
Theo ông nhịp điệu tăng trưởng của tiền tệ phải cùng nhịp điệu tăng
trưởng của nền sản xuất đích thực duy trì trong một thời gian dài và bảo đảm
một nền kinh tế không lạm phát. Nếu làm khác đi, nghĩa là nếu phát hành tiền
quá nhiều, những người muốn gửi tiền mặt tồn quỹ xác định bằng sức mua
của nó(tiền mặt tồn quỹ thực tế là M/P) và hàm của các biến thành phần ổn
định sẽ biến một phần tièn mặt tồn quỹ đó thành nhu cầu của cải để giữ
nguyên cấu trúc tài sản của họ. Hiệu ứng tiền mặt tồn quỹ thực tế sẽ gây nên
một nhu cầu quá mức, kéo giá cả tăng lên.
Cung ứng tiền tệ và lạm phát tiền tệ
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
P
P
3
P
2
P
1
Y
n
Y
1
3
2
’
2
1
1
’
A D
1
A D
2
A D
3
A S
1
A S
2
A S
3
Y
( T æ n g s ¶ n p h È m )
( T æ n g m ø c g i ¸ )
0
Lạm phát và tác động của lạm phát tới nền kinh tế
Chúng ta xem xét kết quả của việc cung tiền tệ tăng lên kéo dài ở đồ
thị 1. Ban đầu nền kinh tế ở điểm 1, với sản lượng đạt mức sản lượng tự nhiên
Yn, tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, mức giá cả P1 (điểm giao nhau của đường tổng
cung AS1 và đường tổng cầu AD1). Khi cung tiền tệ tăng lên đều đặn dần
dần trong suốt cả năm, thì đường tổng cầu di chuyển sang phải đến AD2.
Trong một thời gian rất ngắn, nền kinh tế sẽ chuyển động đến điểm 1’ và sản
phẩm tăng lên trên mức tỷ lệ tự nhiên, tức là đạt tới Y1(Y1>Yn). Điều đó đã
làm giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiê, tiền
lương tăng lên và làm giảm tổng cung-đường tổng cung dịch chuyển vào đến
AS2. Tại đây, nền kinh tế quay trở lại mức tỷ lệ tự nhiên của sản phẩm trên
đường tổng cung dài hạn. Điểm cân bằng mới 2, mức giá đã tăng từ P1 lên
P2. Cung tiền tệ tiếp tục tăng lên, đường tổng cầu lại dịch chuyển ra đến
AD3, đường tổng cung tiếp tục dịch chuyển vào AS3, nền kinh tế đạt mức
cân bằng mới là điểm 3. Nếu cung tiền tệ vẫn tiếp tục tăng thì sự dịch chuyển
của đường tổng cầu và tổng cung như trên lại tiếp tục diễn ra và nền kinh tế
đạt tới mức giá cả ngày càng cao hơn. Khi mà cung tiền tệ còn tăng thì quá
trình này sẽ tiếp tụcvà lạm phát sẽ xảy ra. .
Trong cách phân tích này của phái tiền tệ, cung tiền tệ được coi là
nguyên nhân duy nhất làm di chuyển đường tổng cầu, do vậy không co cái gì
nữa có thể làm nền kinh tế chuyển từ điểm 1 sang 2 và 3 và xa hơn. Theo
quan điểm của các nhà kinh tế học thuộc phái tiền tệ( trong đó có Friedman) ,
khi cung tiền tệ tăng lên kéo dài sẽ làm cho mức giá cả tăng lên kéo dài và
gây ra lạm phát.
Theo phân tích của phái Keynes thì ngoài cung tiền tệ còn có những
nhân tố khác ảnh hưởng đến đường tổng cầu và tổng cung(như là các chính
sách tài chính và các cú sốc cung tiền tệ). Tăng chi tiêu chính phủ hoặc cắt
giảm thuế cũng làm tăng tổng cầu do đó đẩy giá lên cao. Nhưng những vấn đề
của chính sách tài khoá lại có giới hạn của nó, chính phủ không có thể chi hơn
100% GNP. Vì vây, việc tăng lên của tỷ lệ lạm phát trong trường hợp này chỉ
là tạm thời. Phân tích khác là về tác động của những cú sốc tiêu cực lên tổng
cung(như việc tăng giá dầu do hậụ quả của lệnh cấm vận dầu mỏ, đấu tranh
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Lạm phát và tác động của lạm phát tới nền kinh tế
của công nhân đòi tăng lương) cũng sẽ làm giá cả tăng lên. Song nếu cung
tiền tệ không tiếp tục tăng lên để tác động lên tổng cầu thì đến một lúc nào
đó, tổng cung lại quay trở lại vị trí ban đầu. Do vậy, tăng giá trong trường
hợp này cũng chỉ là một hiện tượng nhất thời mà thôi.
Rõ ràng là quan điểm của phái Keynes và phái tiền tệ tương đối thống
nhất nhau. Họ đều tin rằng lạm phát cao có thể xảy ra chỉ với một tỷ lệ tăng
trưởng tiền tệ cao.
1.2.2. Lạm phát do nhu cầu
1.2.2.1. Tiền tệ và nhu cầu quá mức
Quan hệ tiền tệ và nhu cầu quá mức đặc biệt chặt chẽ khi thừa nhận định
luật Say cổ xưa. Theo định luật này, sự cung cấp sản phẩm tạo ra nhu cầu
chính nó, nghĩa là nhu cầu tổng thể được tạo nên bởi toàn bộ thu nhập được
phân phối vào dịp sản xuất. Nhu cầu quá mức chỉ có thể có do sự tăng không
kiểm soát được các phương tiện chi trả trong tay những người có nhu cầu.
Tính đặc thù của quan điểm giải thích lạm phát do nhu cầu, so với quan
điểm của phái tiền tệ là ở chỗ việc phát hành tiền tệ chỉ dẫn đến lạm phát
trong trường hợp bộ máy sản xuất không thể đáp ứng mức tăng của nhu cầu.
Thế là hiệu chỉnh cung-cầu được thực hiện bằng giá cả thay cho số lượng.
Lạm phát xảy ra khi khi nhu cầu quá mức lại nảy sinh và không có yếu tố
nào(năng lực sản xuất vật chất tăng, tuyển thợ mới, thêm nguyên liệu mới)
can thiệp vào để làm tăng mức cung ứng tổng thể đủ để thoả mãn nhu cầu.
1.2.2.2. Lạm phát cầu kéo
Trong chính sách kinh tế vĩ mô, Chính phủ vì muốn đạt được mục đích
của mình(công ăn việc làm cao) nên phải áp dụng một tỷ lệ tăng trưởng tiền
tệ cao và xảy ra lạm phát. Chính các nhà hoạch định theo đuổi các chính sách
làm đường tổng cầu di chuyển ra dẫn đến lạm phát cầu kéo.
Ngay cả khi công ăn việc làm đầy đủ, thất nghiệp lúc nào cũng tồn tại
do những xung đột trên thị trường. Vì vậy tỷ lệ thất nghiệp khi có công ăn
việc làm ổn định-tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên sẽ lớn hơn không. Sự ấn định tỷ lệ
thất nghiệp dưới mức tự nhiên dẫn tới diễn biến như thế nào?Chúng ta sẽ chỉ
ra điều đó thông qua phân tích đồ thị tổng cung tổng cầu sau đây
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Lạm phát và tác động của lạm phát tới nền kinh tế
Lạm phát cầu kéo
Ban đầu nền kinh tế ở điểm 1 với mức sản phẩm tiềm năng Yn. Các
nhà hoạch định chính sách đưa ra những biện pháp nhằm đạt được chỉ tiêu sản
phẩm lơn hơn mức sản lượng tiềm năng, mức chỉ tiêu cần đạt dó là Yt (Yt >
Yn). Các biện pháp mà họ đưa ra sẽ tác động lên tổng cầu và làm tăng tổng
cầu, đường tổng cầu sẽ dịch chuyển ra đến AD2, nền kinh tế dịch chuyển đến
điểm 1’. Đó là giao điểm giữa đường tổng cầu mới AD2 và đường tổng cung
ban đầu AS1. Sản lượng bây giờ đã đạt tới mức Yt, mục tiêu tỷ lệ thất nghiệp
thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên đã đạt được. Cũng chính vì vậy tiền lương
tăng lên và đường tổng cung sẽ di chuyển vào đến AS2, đưa nền kinh tế từ
điểm 1’ sang điểm 2’. Nền kinh tế quay trở lại mức sản lượng tiềm năng và tỷ
lệ thất nghiệp tự nhiên nhưng ở một mức giá cả P2 cao hơn P1.
Đến lúc này tỷ lệ thất nghiệp lại cao hơn mục tiêu mà các nhà hoạch
định cần đạt được. Do đó, họ lại tiếp tục thực hiện các chính sách làm tăng
đường tổng cầu. Quá trình này cứ tiếp diễn liên tục và đẩy giá cả trong nền
kinh tế lên cao hơn. Nhưng vì giới hạn của những chính sách tài chính(giới
hạn trong tăng chi tiêu chính phủ và giảm thuế) nên họ phải áp dụng chính
sách tiền tệ bành trướng, nghĩa là liên tục tăng cung tiền tệ và dẫn tới một tỷ
lệ tăng trưởng tiền tệ cao. Họ không thu được điều tốt của một mức sản phẩm
thường xuyên cao mà lại gây nên điều xấu là một cuộc lạm phát. Lạm phát
cầu-kéo cũng là một hiện tượng tiền tệ.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
P
P
3
P
2
P
1
Y
n
Y
t
3
2
’
2
1
1
’
A D
1
A D
2
A D
3
A S
1
A S
2
A S
3
Y
( T æ n g s ¶ n p h È m )
( T æ n g m ø c g i¸ )
0
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét